Hợp đồng thử việc tự chuyển thành hợp đồng chính thức được không ?



  • "Hiện tại tôi đang làm việc tại công ty đã được hơn 3 tháng, tôi đã hoành thành thử việc 2 tháng. Sau đó, công ty thông báo là do khó khăn tài chính nên cắt giảm nhận sự, công ty sẽ trả cho tôi 01 tháng lương và yêu cầu tôi viết đơn xin nghỉ. Tôi có thắc mắc là hợp đồng lao động 1 năm mà chỉ đền bù có 1 tháng lương kèm thông báo trước 30 ngày thì có đúng luật không. Công ty tôi giải thích: Trong Hợp đồng lao động đã kí kết: “Khi Người sử dụng lao động có nhu cầu thay đổi về nhân sự Công ty sẽ báo trước cho Người lao động 30 ngày. Trong trường hợp này, công ty sẽ không có trách nhiệm bồi thường bất cứ chi phí hay khoản tiền công, tiền lương nào đối với Người lao động. Khi Người lao động muốn đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trước thời hạn, sẽ báo trước cho bên sử dụng lao động tối thiểu 30 ngày. Điều khoản này đã được Hai Bên thỏa thuận, được nêu rõ trong HĐLĐ ký kết trước đây. Nội dung điều khoản này cũng thể hiện sự công bằng giữa hai bên, trong trường hợp một Bên sử dụng quyền thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng, đều phải thông báo cho Bên kia trước 30 ngày

    Tuy nhiên Sau khi hết thời gian thử việc tôi vẫn đi làm đến nay và chưa được ký hợp đồng lao động 12 tháng mà chỉ nhận thông báo là Hợp đồng lao động của tôi kéo dài thêm 01 năm.

    Như vậy, sau khi hết thử việc tôi vẫn đi làm mà chưa ký Hợp đồng lao động có thời hạn như đã trình bày phía trên thì theo quy định pháp luật hợp đồng của tôi với công ty là Hợp đồng lao động có thời hạn bao lâu hay như thế nào? Nếu tôi tự động chuyển thành Hợp đồng lao động một năm mà công ty chỉ bồi thường một tháng lương và báo trước 30 ngày thì có đúng quy định pháp luật hay không?"
    Lawkey sẽ tư vấn tình huống trên như sau:

    1. Về Hợp đồng lao động:

    Điều 29 Bộ luật Lao động 2012 có quy định về kết thúc thời gian thử việc như sau:

    “1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

    1. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.”

    Như vậy, về nguyên tắc, sau khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động. Trong thời gian thử việc, nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận thì hai bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường. Theo đó, khi hết thời gian thử việc mà công ty không ký kết hợp đồng lao động với người lao động, người lao động cũng không được thông báo kết quả thử việc và vẫn tiếp tục làm việc cho công ty, thì người lao động đương nhiên được làm việc chính thức. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về trường hợp vẫn tiếp tục làm việc sau khi kết thúc thời gian thử việc thì được làm việc chính thức sẽ tương ứng với loại hợp đồng lao động nào và trong thời hạn bao lâu? Do đó, phải căn cứ vào thỏa thuận tại hợp đồng thử việc để biết trường hợp sau khi thử việc đạt yêu cầu thì hai bên sẽ ký hợp đồng lao động loại nào, dùng thông tin này làm cơ sở xác định trách nhiệm thực hiện hợp đồng lao động được xác lập đương nhiên sau thời gian thử việc. Trong trường hợp này của bạn, sau thời gian thử việc mà công ty không ký hợp đồng lao động, cũng không thông báo cho bạn về kết quả thử việc, công ty vẫn giao việc cho bạn làm thì đương nhiên hợp đồng lao động giữa bạn và công ty được xác lập.

    1. Về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

    Việc công ty quyết định cho bạn thôi việc mà không có căn cứ, không tuân thủ thời gian báo trước là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Điều 38 Bộ luật lao động 2012 quy định về các trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và thời hạn thông báo khí đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

    “1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

    a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

    b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

    Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

    c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

    d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

    1. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

    a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

    b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

    c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.”

    Khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì người sử dụng lao động phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động 2012:

    “1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

    1. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

    2. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.”

    3. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

    4. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

    Như vậy, sau khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn, công ty phải bồi thường cho bạn theo các quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 42 Bộ luật Lao động trích dẫn ở trên.

    Để đảm bảo quyền lợi của mình, bạn có thể thông qua Hòa giải viên lao động để giải quyết, nếu trong quá trình hòa giải mà hai bên không thể thỏa thuận được với nhau về các vấn đề thì bạn có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án nơi công ty đặt trụ sở giải quyết. Hoặc bạn có thể trực tiếp gửi đơn lên Tòa án mà không cần phải thông qua thủ tục hòa giải. Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết căn cứ theo Điều 32 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 quy định Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
    Xem thêm: Dịch vụ kế toán thuế.


Log in to reply